Trình Quốc hội 5 dự án luật và dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992

Thảo luận việc bỏ phiếu tín nhiệm các chức vụ chủ chốt

Tin Tuc - - THÚÂI SÛÅ - TTN

T ch c l y ý ki n nhân dân v d th o s a i Hi n pháp n m 1992

Trình bày Tờ trình về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Phan Trung Lý, thành viên Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 nêu rõ: Sửa đổi Hiến pháp năm 1992 để bảo đảm đổi mới đồng bộ cả về kinh tế và chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; xây dựng và bảo vệ đất nước; tích cực và chủ động hội nhập quốc tế.

Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã xác định 9 nội dung cơ bản sửa đổi Hiến pháp năm 1992 là để tiếp tục: Thể chế hóa và làm sâu sắc hơn chủ trương phát huy dân chủ XHCN, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động các lực lượng xã hội phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước; khẳng định và làm rõ hơn vị trí, vai trò, trách nhiệm lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; phát huy nhân tố con người, thể hiện sâu sắc hơn quan điểm bảo vệ, tôn trọng quyền con người, bảo đảm thực hiện tốt hơn quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân. Việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992 góp phần xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, phát triển văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, bảo đảm công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN; xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, xác định rõ hơn vai trò, trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ lợi ích quốc gia, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân trong quan hệ quốc tế; tạo cơ sở hiến định để Nhà nước đẩy mạnh hợp tác quốc tế, thực hiện quyền, nghĩa vụ quốc gia, góp phần giữ gìn hòa bình khu vực và thế giới. Cuối cùng là sửa đổi kỹ thuật lập hiến và quy trình sửa đổi Hiến pháp để bảo đảm hiệu lực, tính ổn định, lâu dài của Hiến pháp.

Kế thừa kinh nghiệm xây dựng các bản Hiến pháp trước đây, tiếp tục phát huy đầy đủ và sâu sắc hơn dân chủ XHCN, để việc lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp bảo đảm chất lượng, hiệu quả, thực sự là đợt sinh hoạt chính trị - pháp lý quan trọng, rộng lớn trong nhân dân và cả hệ thống chính trị, Ủy ban đề nghị Quốc hội ban hành Nghị quyết về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.

Theo Tờ trình về dự thảo Nghị quyết về việc lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, đối tượng lấy ý kiến bao gồm tất cả các tầng lớp nhân dân, các cơ quan, tổ chức ở Trung ương và ở địa phương; lấy ý kiến về toàn bộ nội dung của dự thảo sửa đổi Hiến pháp.

Việc lấy ý kiến nhân dân được thực hiện thông qua các hình thức: Góp ý trực tiếp hoặc bằng văn bản gửi đến các cơ quan, tổ chức; tổ chức các hội nghị, hội thảo, tọa đàm; phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng và các hình thức phù hợp khác. Ủy ban đề nghị Quốc hội cho tổ chức lấy ý kiến nhân dân trong thời gian 3 tháng, bắt đầu từ ngày 2/1/2013 và kết thúc vào ngày 31/3/2013.

Tại kỳ họp này, Quốc hội sẽ xem xét, thảo luận, cho ý kiến lần đầu về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và thông qua Nghị quyết về việc lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Trên cơ sở ý kiến thảo luận của các vị đại biểu Quốc hội, Ủy ban sẽ chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và phối hợp với UBTVQH, UBTWMTTQ Việt Nam và các cơ quan, tổ chức hữu quan tổ chức lấy ý kiến nhân dân theo Nghị quyết của Quốc hội. Trên cơ sở ý kiến của nhân dân và ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, Ủy ban sẽ tập hợp, tổng hợp và dự kiến tiếp thu, chỉnh lý dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ 5 (tháng 5/2013); sau đó tiếp tục hoàn thiện trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 6 (tháng 10/2013).

Ti p t c kh ng nh t ai thu c s h u toàn dân

Tờ trình dự án Luật Đất đai (sửa đổi) do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Minh Quang, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày nêu rõ: Việc sửa đổi Luật Đất đai tiếp tục khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã giao cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong quá trình thực hiện các chính sách đất đai; không đặt vấn đề điều chỉnh lại đất nông nghiệp đã giao cho hộ gia đình và cá nhân. Việc sửa đổi Luật Đất đai phải bảo đảm hài hòa các lợi ích của Nhà nước, người sử dụng đất và nhà đầu tư; xây dựng cơ chế và có giải pháp để đất đai trở thành nguồn lực cho sự phát triển của đất nước; sử dụng hữu hiệu các công cụ về giá, thuế trong quản lý đất đai nhằm khắc phục tình trạng đầu cơ, tham nhũng, lãng phí. Đồng thời khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả và tiết kiệm tài nguyên đất; kiểm soát chặt chẽ việc chuyển đất nông nghiệp sang sử dụng vào mục đích khác; khuyến khích tích tụ ruộng đất, phát triển trang trại, doanh nghiệp nông nghiệp phù hợp điều kiện từng vùng.

Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) gồm có 14 chương và 192 điều, tăng thêm 7 chương và 46 điều so với Luật Đất đai năm 2003. Trong đó, có một số nội dung mới đáng chú ý như: Quy định cụ thể các trường hợp thu hồi đất nhằm khắc phục tình trạng tùy tiện thu hồi đất; bổ sung quy định về cưỡng chế thu hồi đất; quy định rõ nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; sửa đổi quy định về nguyên tắc định giá đất; bổ sung quy định về các phương pháp định giá đất… Một điểm đổi mới quan trọng khác là bổ sung quy định về điều tra, đánh giá đất đai để Nhà nước vừa “nắm” chắc vừa “quản” chặt và khai thác, sử dụng đất đai khoa học, hiệu quả hơn. Về khung giá các loại đất, dự thảo được xây dựng theo hướng Chính phủ tiếp tục ban hành khung giá đất nhưng khung giá được thể hiện chi tiết, cụ thể hơn thông qua việc tăng dày các vùng giá trị thay vì chỉ quy định cho 3 vùng (đồng bằng, trung du, miền núi) như quy định hiện nay.

Thẩm tra dự án Luật Đất đai (sửa đổi), Ủy ban kinh tế của Quốc hội tán thành sự cần thiết ban hành luật nhằm khắc phục các hạn chế, bất cập về quy hoạch sử đụng đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng, xác định giá đất, hỗ trợ tái định cư và các thủ tục hành chính về đất đai; nguồn lực về đất đai chưa được phát huy đầy đủ để trở thành nội lực quan trọng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; việc sử dụng đất nhiều nơi còn lãng phí, hiệu quả thấp; tham nhũng, tiêu cực trong lĩnh vực này còn lớn…

Một quy định cũng nhận được sự đồng tình cao là Nhà nước chủ động thu hồi đất theo kế hoạch sử dụng đất hàng năm đã được phê duyệt và tán thành việc quy định cụ thể các trường hợp Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích quốc phòng - an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và các dự án phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, quy định chặt chẽ việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, đảm bảo dân chủ, công khai, khách quan, công bằng và đúng pháp luật. Người có đất bị thu hồi được hỗ trợ đào tạo nghề, tạo việc làm, tổ chức lại sản xuất, đảm bảo đời sống. Về giá đất, đa số ý kiến cho rằng, phải do Nhà nước quyết định bao gồm khung giá đất và mức giá cụ thể; được điều chỉnh linh hoạt, phù hợp với từng loại đất, các đối tượng sử dụng đất và các trường hợp giao đất, cho thuê đất.

Ch ng ng phó trong phòng ch ng thiên tai

Trình bày Tờ trình dự án Luật Phòng, tránh và giảm nhẹ thiên tai, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát cho biết: Để phù hợp với nội dung của luật, Chính phủ xin phép Quốc hội cho đổi tên luật là Luật Phòng chống thiên tai nhằm thể hiện cô đọng nhất bản chất cũng như mục đích của dự án luật là tăng cường tính chủ động, ứng phó trong hoạt động phòng chống thiên tai.

Thẩm tra dự án Luật Phòng, tránh và giảm nhẹ thiên tai, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường (KH,CN&MT) của Quốc hội đồng tình việc ban hành luật nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý đối với hoạt động phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai, tăng cường quản lý nhà nước, hiệu quả hoạt động phòng, chống thiên tai...

Ti p t c xã h i hóa ho t ng hòa gi i c s

So với Pháp lệnh về Tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở, dự án Luật Hòa giải cơ sở có những điểm mới quan trọng về: Chính sách của Nhà nước; hòa giải viên; tổ hòa giải; hoạt động hòa giải ở cơ sở; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và hỗ trợ kinh phí hòa giải ở cơ sở.

Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội tán thành với sự cần thiết ban hành luật này nhằm tăng cường cơ sở pháp lý để tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở có hiệu quả hơn, tạo cơ chế hỗ trợ cho người dân thông qua đó giải quyết các vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ, góp phần ổn định trật tự xã hội. Ủy ban về các vấn đề xã hội nhấn mạnh quan điểm tăng cường xã hội hóa và

Dự thảo Luật Phòng, chống khủng bố trình Quốc hội cho ý kiến gồm 8 chương, 57 điều nhằm tạo khuôn khổ pháp lý đầy đủ, vững chắc cho công tác phòng, chống khủng bố và tài trợ cho khủng bố, góp phần đấu tranh kiên quyết, có hiệu quả với loại hoạt động nguy hiểm này.

Theo Bộ trưởng Bộ Công an Trần Đại Quang, dự thảo luật đã quy định cụ thể 6 nhóm hành vi bị nghiêm cấm, trong đó có các hành vi khủng bố, tài trợ khủng bố; che giấu, chứa chấp, không tố giác âm mưu, hành vi khủng bố, tài trợ khủng bố; cản trở, gây khó khăn cho hoạt động phòng, chống khủng bố, tài trợ khủng bố; đưa ra thông tin giả, cố ý loan truyền thông tin giả về khủng bố, tài trợ khủng bố…

Ủy ban Quốc phòng và An ninh (QPAN) của Quốc hội tán thành sự cần thiết ban hành Luật Phòng, chống khủng bố nhằm thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng về bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; đề nghị Chính phủ rà soát, cân nhắc kỹ một số quy định để vừa bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật vừa tạo cơ sở pháp lý cần thiết cho công tác phòng, chống khủng bố trong tình hình hiện nay.

cao trách nhi m công dân v i nhi m v qu c phòng - an ninh

Tờ trình dự án Luật Giáo dục quốc phòng - an ninh do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh trình bày nêu rõ: Việc ban hành luật là cần thiết để khắc phục những hạn chế, đồng thời tạo ra những bước phát triển trong giáo dục QP-AN, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới, làm chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN...

Đa số ý kiến của Ủy ban QP- AN đề nghị dự thảo cần bổ sung quy định cụ thể và chặt chẽ về yêu cầu, nội dung, hình thức và cơ chế tổ chức hoạt động xã hội hóa theo hướng thu hút sự tham gia rộng rãi của cơ quan, tổ chức và cá nhân.

Th o lu n vi c b phi u tín nhi m các ch c v ch ch t

Chiều 29/10, các đại biểu làm việc tại tổ, thảo luận về dự thảo Nghị quyết về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn.

Về thẩm quyền và phạm vi những người được lấy phiếu tín nhiệm, nhiều đại biểu cho rằng việc mở rộng phạm vi những người được lấy phiếu tín nhiệm đối với tất cả những người giữ chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn, bao gồm các thành viên Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các Ban của HĐND… là quá rộng không cần thiết, quá dàn trải, dễ dẫn đến hình thức.

Theo đại biểu Trần Dương Tuấn (Bến Tre), trước hết Quốc hội chỉ nên lấy phiếu tín nhiệm đối với 49 đại biểu Quốc hội thuộc diện chủ chốt (Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc hội, các thành viên khác của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước; Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, các thành viên khác của Chính phủ; Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; Tổng Kiểm toán nhà nước). Các vị trí này đã được quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật. Những người được lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm phải chuẩn bị một báo cáo nhận xét về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức lối sống, kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, các vấn đề cần giải trình liên quan đến các vị đại biểu Quốc hội. Đại biểu nhấn mạnh: Việc lấy phiếu tín nhiệm với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn nếu không có thông tin đầy đủ đến các đại biểu Quốc hội thì việc bỏ phiếu sẽ thành hình thức.

Đồng tình với ý kiến trên, đại biểu Trần Văn Minh (Quảng Ninh) cho rằng cần có sự đồng bộ về văn bản pháp luật. Vì vậy, trước mắt chỉ nên lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với 49 đại biểu chủ chốt, về lâu dài sẽ thực hiện theo dự thảo Nghị quyết. Để làm được việc này, thời gian tới cần phải tăng cường lực lượng đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND làm nhiệm vụ chuyên trách, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội và HĐND.

Xung quanh nội dung về mức độ đánh giá, thể hiện sự tín nhiệm, đại biểu Trần Dương Tuấn (Bến Tre) tán thành với dự thảo Nghị quyết, quy định có 4 mức trên phiếu lấy tín nhiệm.

Đại biểu Hà Minh Huệ (Bình Thuận) lại cho rằng chỉ nên quy định hai mức lựa chọn "tín nhiệm" và "không tín nhiệm" là đủ bởi việc đánh giá tín nhiệm thấp hay cao là rất khó. Đồng tình với ý kiến trên, đại biểu Nguyễn Văn Hiến (Bà Rịa - Vũng Tàu) cho rằng, tín nhiệm cao hay thấp phải dựa trên cơ sở của kết quả tỷ lệ phiếu tín nhiệm nhiều hay ít, cần căn cứ vào tỷ lệ phiếu tín nhiệm để xác định người được lấy phiếu đạt tín nhiệm cao hay tín nhiệm thấp.

Ngoài ra, các đại biểu cũng góp nhiều ý kiến về các quy định khác của dự thảo Nghị quyết như: Về thời điểm tổ chức lấy phiếu tín nhiệm; về quy trình lấy phiếu tín nhiệm; về định kỳ lấy phiếu tín nhiệm để tiếp tục hoàn thiện dự thảo Nghị quyết...

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Minh Quang trình bày Tờ trình dự án Luật Đất đai (sửa đổi).

Newspapers in Vietnamese

Newspapers from Viet Nam

© PressReader. All rights reserved.